Dấu Ấn Lịch Sử Thái Úy Tô Hiến Thành
"Dẹp loạn an dân · Bình yên bốn cõi · Vững bền nền độc lập tự chủ"
Thái Úy Tô Hiến Thành Dưới Triều Vua Lý Anh Tông
Năm Mậu Ngọ (1138), vua Lý Thần Tông băng hà, thái tử Thiên Tộ lên ngôi khi mới 3 tuổi, tức hoàng đế Lý Anh Tông. Trong suốt gần bốn thập kỷ phụng sự triều Lý Anh Tông, Thái Úy Tô Hiến Thành (1102 – 1179) đã từng bước chứng minh tài năng kiệt xuất, từ một vị tướng trẻ lập chiến công bắt sống giặc loạn Thân Lợi đến ngôi vị đầu triều.
Nhờ tài thao lược quân sự và đức độ liêm khiết, ông được phong thăng chức Thái úy vào năm 1159 sau thắng lợi dẹp yên Ngưu Hống – Ai Lao, thống lĩnh toàn bộ binh mã Đại Việt. Đến năm 1175, ông được vua phong chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự, trực tiếp điều hành việc chính trị, quân sự và bang giao của đất nước.
Dưới sự phụ tá mẫn cán và trung trinh của ông, giang sơn triều Lý Anh Tông giữ vững ổn định, đập tan mọi mưu toan bạo loạn biên ải và nâng cao vị thế độc lập tự chủ của Đại Việt.
Thái Úy Tô Hiến Thành hết lòng phụng sự hai đời vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông, là tấm gương sáng ngời về đức trung quân ái quốc và tài năng trị nước.
Thái Úy Thống Lĩnh
Tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Đại Việt từ năm 1159, bảo vệ cấm thành và giữ vững biên cương.
Bình Chương Quân Quốc
Tham gia hoạch định quốc sách, định chế pháp luật, củng cố kỷ cương phép nước triều Lý.
Tước Vương Cao Quý
Là đại thần ngoại tộc hiếm hoi được triều đình nhà Lý kính trọng gia phong tước Vương.
Mưu Trí Bắt Sống Tướng Loạn Thân Lợi
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm Canh Thân (1140) sang Tân Dậu (1141), người thầy bói Thân Lợi tự xưng là con vua Lý Nhân Tông, tiếm xưng Bình Vương, chiêu tập đồ đảng và thổ binh ở vùng biên viễn Thái Nguyên, Lạng Châu nổi loạn. Quân Thân Lợi nhiều lần đánh chiếm các châu huyện, tiến sát bờ cõi và đe dọa an nguy của kinh thành Thăng Long.
Vua Lý Anh Tông sai Thái úy Đỗ Anh Vũ chỉ huy đại quân đánh dẹp. Quân triều đình phá tan căn cứ phản loạn tại Quảng Nhuệ. Thân Lợi đem tàn quân men theo đường rừng tháo chạy trốn sang châu Lạng.
Nắm bắt hướng rút lui của kẻ địch, Thái Úy Tô Hiến Thành đã mưu trí bày trận mai phục, đón lõng tại địa phận châu Lạng và bắt sống được Thân Lợi giao cho Đỗ Anh Vũ đóng cũi giải về Thăng Long. Vụ biến loạn nguy hiểm kéo dài hai năm bị dập tắt hoàn toàn.
Sau khi bắt sống kẻ đầu sỏ, Thái Úy Tô Hiến Thành cùng các quan dâng sớ tâu vua chỉ trừng trị nghiêm những kẻ chủ mưu, còn tha bổng và cấp phát phương tiện làm ăn cho hàng vạn binh sĩ lầm đường trở về quê quán, giúp nhanh chóng vỗ an biên thùy miền Đông Bắc.
vào quốc sử Đại Việt
Chiến Lược Biên Viễn Tây Bắc
Hành Quân Hiểm Trở
Quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Thái Úy Tô Hiến Thành cơ động vượt qua địa hình rừng thiêng nước độc thượng du sông Đà, sông Mã.
Kỷ Luật Nghiêm Minh
Phá vỡ các căn cứ phản nghịch của tộc Ngưu Hống và quân Ai Lao, bắt sống tướng giặc cùng nhiều gia súc, dập tắt nạn cướp bóc mùa màng.
Tiến Phong Thái Úy
Sau thắng lợi to lớn này, vua Lý Anh Tông xuống chiếu tiến phong ông làm Thái úy, nắm quyền tổng chỉ huy quân sự toàn quốc.
Bình Định Ngưu Hống – Ai Lao
Quốc sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rõ: "Mùa hạ, tháng 5 [năm 1159], Ngưu Hống và Ai Lao làm phản. Sai Thái Úy Tô Hiến Thành đi đánh, dẹp yên được. Tiến phong làm Thái úy."
Khi tộc người Ngưu Hống ở miền núi Tây Bắc liên kết với quân Ai Lao xâm phạm biên thùy, cướp bóc nhân dân miền biên ải, vua Lý Anh Tông đã trao kiếm lệnh cho Thái Úy Tô Hiến Thành cầm quân xuất chinh.
Bằng tài dùng binh linh hoạt trên địa hình hiểm trở, ông chia quân công thủ chặt chẽ, đánh tan các cánh quân quấy nhiễu, bắt sống chỉ huy phản loạn, thu phục nhân tâm các tù trưởng bản địa và xác lập sự che chở, quản lý vững chắc của triều đình Đại Việt với phên dậu Tây Bắc.
Nam Chinh Thu Phục Chiêm Thành
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: "Mùa thu, tháng 7 [năm 1167], sai Thái úy Tô Hiến Thành làm Đô thống, Đới Tôn Triều làm Đô chỉ huy sứ đem quân đi đánh Chiêm Thành. Mùa đông, tháng 10, Chiêm Thành sai sứ sang dâng trân châu và sản vật địa phương xin hàng. Xuống chiếu cho Thái Úy Tô Hiến Thành đem quân về."
Khi vua Chiêm Thành cậy đường biển xa xôi ngừng lệ triều cống và xua quân quấy rối biên giới phía nam, Thái Úy Tô Hiến Thành thống lĩnh thủy bộ tiến quân vào phương Nam.
Trước quân lệnh nghiêm minh, danh thế vang dội của Thái úy Tô Hiến Thành và hạm đội chiến thuyền rồng hùng hậu, vua Chiêm hoảng sợ sai sứ dâng ngọc quý, voi ngựa xin tạ tội thần phục. Nhận biểu hòa hiếu, Thái Úy Tô Hiến Thành ban lệnh thu quân, bảo toàn sinh mạng cho quân dân cả hai nước, thiết lập nền hòa bình vững chắc nơi cõi nam.
Đô Thống Lĩnh Quân Nam Chinh
Thái úy Tô Hiến Thành làm Đô thống chỉ huy hạm đội chiến thuyền, thu phục lân bang giữ yên cõi bờ Đại Việt mà không tốn một mũi tên hòn đạn.
Vững Vàng Cương Thổ và Đỉnh Cao Bang Giao Nhà Tống
Sắc Phong "An Nam Quốc Vương" Năm 1174
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: "Mùa xuân, tháng 2 [năm Giáp Ngọ 1174]... Nhà Tống phong vua làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ làm An Nam Quốc."
Trước thời điểm này, các triều đại phong kiến phương Bắc chỉ xem nước ta là một quận ngoại phiên, phong tước "Giao Chỉ quận vương". Nhờ tiềm lực quốc phòng vững chắc, kỷ cương nội trị nghiêm minh và đường lối ngoại giao bản lĩnh kiên quyết mà Thái úy Tô Hiến Thành cùng triều đình gầy dựng, vua Tống Hiếu Tông buộc phải ban chiếu sắc phong vua Lý Anh Tông là An Nam Quốc Vương.
Từ đây, văn kiện bang giao chính thức bãi bỏ cách gọi "Giao Chỉ quận", thừa nhận Đại Việt là một quốc gia độc lập có chủ quyền ngang hàng.
Ý Nghĩa Bang Giao Quốc Tế
Danh xưng "An Nam Quốc" là một mốc son ngoại giao chói lọi trong lịch sử dân tộc. Thành quả to lớn này bắt nguồn từ chính sách kết hợp hài hòa giữa sức mạnh quân sự răn đe nơi biên cương và tài ngoại giao mềm mỏng nhưng kiên định của Thái Úy Tô Hiến Thành.
Trị Thủy, Quai Đê Ngăn Mặn và Chiêu Dân Lập Ấp
Quai Đê Ngăn Mặn • Mở Mang Ruộng Đồng Phì Nhiêu Vùng Duyên Hải
Quai Đê Ngăn Mặn
Trong các chuyến kinh lý ven biển miền duyên hải Bắc Bộ (tiêu biểu như vùng Vĩnh Bảo – Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa), ông khuyến khích quân dân đắp đê ngăn sóng mặn, biến bãi đầm lầy chua mặn thành đồng ruộng canh tác. Dấu tích Miếu Ụ (xã Dương Am, Vĩnh Bảo) tương truyền chính là điếm canh đê do quân lính của Thái Úy Tô Hiến Thành lập nên.
Khai Hoang Lập Ấp
Tại quê hương hương Ô Diên (nay là Hạ Mỗ, Đan Phượng) nơi ngã ba sông Hồng – sông Đáy, cũng như các vùng khai hoang, ông khuyến khích nhân dân khai phá đất hoang bồi đắp bãi sông, định cư lập ấp, phát triển xóm làng nông nghiệp trù phú.
Đức Trị Khoan Dung
Là bậc túc nho uyên bác, ông luôn tâu vua thực thi chính sách đức trị: giảm tô thuế cho dân nghèo những năm hạn úng, bãi bỏ các hình phạt quá hà khắc, chăm lo đắp đê phòng lụt và mở mang việc học hành khoa cử để tuyển chọn nhân tài.
Phụ Chính Vua Lý Cao Tông và Khí Phách Vì Xã Tắc
Tháng 7 năm Ất Mùi (1175), vua Lý Anh Tông lâm bệnh nặng qua đời tại điện Thụy Quang, để lại di chiếu thác cô cho Thái úy Tô Hiến Thành phò tá thái tử Long Cán (vua Lý Cao Tông) khi ấy mới tròn 3 tuổi.
Chiêu Linh Thái hậu (mẹ đẻ hoàng tử Long Xưởng – người từng bị phế truất năm 1174) muốn phế bỏ ấu chúa để lập con mình, sai người mang nhiều mâm vàng bạc đút lót cho phu nhân Thái Úy Tô Hiến Thành. Ông kiên quyết khước từ: "Ta là bậc đại thần nhận mệnh thác cô của tiên đế, giúp đỡ ấu chúa, nay lại ăn của đút mà làm việc phế lập thì còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế dưới suối vàng nữa!"
Khi Thái hậu thân chinh dụ dỗ, ông dập đầu khẳng khái tâu: "Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần quyết không làm! Huống chi lời dặn dò phó thác của Tiên đế còn văng vẳng bên tai, thần há dám đổi lòng!"
Ông chấn chỉnh quân sĩ nghiêm ngặt, giữ yên cấm cung, tôn lập ấu chúa lên ngôi an toàn, đập tan âm mưu đảo chính cung đình nguy hiểm, giữ vững cơ nghiệp xã tắc nhà Lý.
Lời Thác Cô Của Vua Lý Anh Tông (1175)
"Trẫm gửi gắm thái tử và xã tắc Đại Việt cho Thái phó. Mong khanh một lòng vì nước, giúp ấu chúa giữ vững giang sơn non sông tổ tông truyền lại!"
Tấm Gương Đề Bạt Hiền Tài (1179)
Năm 1179, khi ông lâm bệnh nặng, Đỗ Thái hậu hỏi người thay thế, ông không tiến cử viên quan ngày đêm hầu hạ mình là Vũ Tán Đường mà tiến cử Gián nghị đại phu Trần Trung Tá: "Nếu Thái hậu hỏi người hầu hạ thì có Vũ Tán Đường, còn hỏi người giúp nước thì có Trần Trung Tá!"
Thái Úy Tô Hiến Thành tạ thế ngày 12 tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179). Vua Lý Cao Tông bãi triều 6 ngày, ăn chay 3 ngày để tang bậc danh thần tiết tháo.